Tác dụng
Use case được tạo ra để đảm bảo hệ thống sau khi xây dựng phù hợp với yêu cầu người dùng, không thừa, không thiếu.Use case còn một số tác dụng nhỏ nữa có thể tham khác trong nhiều tài liệu use case khác.
Cách đọc
Hướng của các mũi tên trong use case thậm chí còn không được định nghĩa trong đặc tả UMLCách xây dựng
Xác định actor
Xác định Use case
Phải luôn luôn dựa vào actor để xác định use case, đừng bị các chức năng của hệ thống chi phối nhiều khi tìm use case. (actor(s) is key to finding correct use-case(s))
Khi đọc biểu đồ use case ta nhìn thấy actor có thể làm gì với hệ thống chứ không phải hệ thống có chức năng gì.Ngay trước khi xây dựng một hệ thống, ý tưởng về hệ thống có những chức năng gì đã nằm hết trong đầu người phát triển, và khi xây dựng biểu đồ use case rất dễ mắc phải việc đồng nhất giữa use case và chức năng của hệ thống, kết quả là sẽ vẽ thừa use case hoặc thiếu use case, như vậy mục tiêu căn bản để vẽ biểu đồ use case sẽ không thể đạt được nữa. Có vẽ hay không vẽ biểu đồ use case cũng bằng nhau.
Tìm đúng use case là công việc vô cùng khó, use case có thể tồn tại ở rất nhiều cấp độ
giả sử có một hệ thống mạng trong công ty, giúp cho toàn bộ nhân viên trong công ty có thể trao đổi với nhau qua các thông điệp (tựa như dịch vụ chat của yahoo). Khi đó dựa và
Tránh tạo các use case có tên chung chung như là quản lý, theo dõi, tương tác, ... Thay vào đó hãy chia ra làm các use case cụ thể lớn nhất có thể
Xác định mối quan hệ
Sau khi hoàn thành ít nhất là một luồng sự kiện cho tất cả các use case chính. Không nên cố tạo ra các use case include, nó có thể phản tác dụng.Nhớ rằng include là để đơn giản hóa biểu đồ chứ không phải phức tạp hóa nó.Không, và không bao giờ sử dụng quan hệ generatoin, quan hệ này chỉ khiến biểu đồ use case khó đọc hơn, chẳng có một lý do nào để sử dụng mối quan hệ này cả.

No comments:
Post a Comment